Vì đường biên giới Việt Nam-Campuchia hòa bình, hữu nghị, phát triển

Tin tức - Ngày đăng : 14:00, 07/10/2019

Trong gần bốn thập kỷ qua, Việt Nam và Campuchia đã nỗ lực, cùng nhau giải quyết vấn đề biên giới, triển khai công tác phân giới cắm mốc biên giới đất liền giữa hai nước.

Chiến sỹ Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Vĩnh Xương (An Giang) tuần tra, bảo vệ cột mốc biên giới. Ảnh: Xuân Khu/TTXVN

Những nỗ lực đó đã đem lại những thành quả quan trọng, mới nhất là Hội nghị tổng kết công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giai đoạn 2006-2019 và Lễ ký văn kiện pháp lý ghi nhận thành quả phân giới cắm mốc vừa được tổ chức tại Hà Nội ngày 5.10.

Nhân dịp này, báo điện tử Hải Dương trân trọng giới thiệu bài viết: "Vì đường biên giới Việt Nam-Campuchia hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển" của Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh.

Nội dung bài viết như sau:

Biên giới, lãnh thổ luôn là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Việc có một đường biên giới được phân vạch, đánh dấu rõ ràng trên thực địa, được ghi nhận bằng văn kiện pháp lý quốc tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý và bảo đảm quốc phòng-an ninh khu vực biên giới, góp phần phát triển kinh tế-xã hội cũng như tăng cường giao lưu và hợp tác hữu nghị giữa các nước láng giềng.

Nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước và với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, Việt Nam luôn mong muốn cùng các nước láng giềng xây dựng biên giới chung hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Trong gần bốn thập kỷ qua, Việt Nam và Campuchia đã nỗ lực, cùng nhau giải quyết vấn đề biên giới, triển khai công tác phân giới cắm mốc biên giới đất liền giữa hai nước. Những nỗ lực đó đã đem lại những thành quả quan trọng, mới nhất là Hội nghị tổng kết công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giai đoạn 2006-2019 và Lễ ký văn kiện pháp lý ghi nhận thành quả phân giới cắm mốc, vừa được tổ chức tại Hà Nội ngày 5.10.

Nhân sự kiện lịch sử quan trọng này, chúng ta hãy cùng nhìn lại chặng đường lịch sử quan hệ Việt Nam-Campuchia cũng như những thành tựu quan trọng mà hai nước đã nỗ lực đạt được trong việc giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ.

Việt Nam-Campuchia, hàng xóm láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau

Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng có lịch sử quan hệ gắn bó lâu đời. Trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, nhân dân hai nước luôn kề vai sát cánh.

Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quốc vương Norodom Sihanouk có mối quan hệ rất thân tình, gần gũi.

40 năm trước đây, cùng với sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, Chính quyền cách mạng Campuchia đã lãnh đạo nhân dân lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, lập lên Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia (nay là Vương quốc Campuchia).

Kể từ đó, hai nước đã khẳng định tình đoàn kết chiến đấu và sự hợp tác hữu nghị lâu dài về mọi mặt là nhân tố đáp ứng lợi ích sống còn của nhân dân hai nước.

Bên cạnh việc không ngừng tăng cường và củng cố quan hệ hữu nghị hợp tác, hai bên luôn khẳng định tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi.

Hiện nay, hai bên có nhiều cơ chế hợp tác song phương được tổ chức định kỳ hàng năm nhằm cụ thể hóa các thỏa thuận cấp cao giữa hai nước, triển khai các kế hoạch hợp tác cụ thể trên các lĩnh vực, đưa quan hệ song phương phát triển toàn diện, thực chất.

Đặc biệt, các cơ chế ở cấp cao như Ủy ban hỗn hợp về hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học và kỹ thuật (đã họp được 17 kỳ) và Hội nghị về Hợp tác phát triển các tỉnh biên giới (đã họp được 11 kỳ) với sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương hai nước đã thể hiện sự quan tâm cao, quyết tâm nỗ lực của hai bên trong việc thúc đẩy hợp tác giữa hai nước.

Hai bên cũng hợp tác và phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là tại Liên hợp quốc, ASEAN, ASEM và trong khuôn khổ tiểu vùng sông Mekong nhằm giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực, không ngừng củng cố đoàn kết và tự cường ASEAN.

Trong quá trình phát triển mối quan hệ Việt Nam-Campuchia suốt hơn 40 năm qua, với nỗ lực to lớn và không mệt mỏi của cả hai bên, các vấn đề do lịch sử để lại giữa hai nước đã và đang từng bước được giải quyết tích cực, trong đó có vấn đề biên giới lãnh thổ.

Công tác biên giới đất liền Việt Nam-Campuchia

Trải qua các triều đại phong kiến, giữa Việt Nam và Campuchia đã hình thành biên giới lịch sử nhưng cơ bản chỉ ở dạng các ranh giới vùng-miền. Trong thời kỳ thực dân, biên giới giữa hai nước có nhiều biến động bởi sự điều chỉnh của Toàn quyền Đông Dương.

Đến khi Pháp rút khỏi Đông Dương (1954), toàn bộ đường biên giới trên đất liền giữa hai nước đã được thể hiện tương đối đầy đủ trên bản đồ Bonne tỷ lệ 1/100.000 do Sở Địa dư Đông Dương xuất bản.

Trong giai đoạn từ 1954-1977, hai bên đã xúc tiến một số cuộc đàm phán về biên giới nhưng không đạt kết quả.

Sau khi Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia ra đời, ngày 18.2.1979, hai nước đã ký “Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia.”

Trên cơ sở Hiệp ước này, hai nước đã đàm phán và ký “Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia” ngày 20.7.1983 và “Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia” ngày 27.12.1985 (gọi tắt là Hiệp ước năm 1985).

Thực hiện Hiệp ước năm 1985, từ năm 1986 hai bên đã tiến hành công tác phân giới cắm mốc và dự kiến sẽ cắm 322 cột mốc trên thực địa, tuy nhiên đến đầu năm 1989, vì một số lý do, công tác phân giới cắm mốc đã tạm dừng.

Từ năm 1999, đàm phán biên giới trên đất liền được nối lại và ngày 10.10.2005, hai nước đã ký “Hiệp ước giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985” (gọi tắt là Hiệp ước bổ sung năm 2005), theo đó, đã điều chỉnh việc hoạch định biên giới tại một số khu vực và thỏa thuận việc triển khai công tác phân giới cắm mốc trên toàn tuyến.

Từ năm 2006, thực hiện Hiệp ước năm 1985 và Hiệp ước bổ sung năm 2005, hai bên tái khởi động công tác phân giới cắm mốc biên giới đất liền. Năm 2013, hai bên thống nhất cắm bổ sung các mốc phụ, cọc dấu để làm rõ hướng đi của đường biên giới trên thực địa.

Kết quả đến nay, hai bên đã hoàn thành phân giới được khoảng 1.045km đường biên giới, xây dựng được 2.047 cột mốc tại 1.553 vị trí trên thực địa, đạt khoảng 84% khối lượng công tác phân giới cắm mốc trên toàn tuyến.

Kết quả phân giới cắm mốc nêu trên được thể hiện rất chi tiết, cụ thể trong 02 điều ước quốc tế cấp Nhà nước mà hai bên vừa ký tại Hà Nội ngày 5.10 vừa qua là: (i) “Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 và Hiệp ước bổ sung năm 2005 giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia” (gọi tắt là Hiệp ước bổ sung năm 2019); và (ii) “Nghị định thư phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia” (gọi tắt là Nghị định thư phân giới cắm mốc).

Đối với khối lượng 16% còn lại chưa được triển khai phân giới cắm mốc tại thực địa, trên tinh thần hợp tác tích cực, hai bên đều thể hiện quyết tâm sẽ sớm giải quyết toàn bộ để chuyển sang giai đoạn phối hợp giải quyết vấn đề phân định biển.

Cột mốc chính 232 ở cửa Khẩu Dinh Bà, địa phận huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp. Ảnh: Nguyễn Văn Trí/TTXVN

Thành quả quan trọng

Việt Nam và Campuchia ký Hiệp ước bổ sung năm 2019 và Nghị định thư phân giới cắm mốc là sự kiện trọng đại trong quan hệ hai nước, là dấu mốc lịch sử có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình giải quyết biên giới đất liền giữa hai nước sau hơn 36 năm đàm phán.

Sự kiện này khẳng định mục tiêu chung của hai bên là xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, bình đẳng cùng có lợi, góp phần không ngừng tăng cường mối quan hệ láng giềng tốt đẹp và đoàn kết truyền thống, vì lợi ích và phồn vinh của nhân dân hai nước.

Việc Việt Nam và Campuchia ký hai văn kiện nêu trên cho thấy, nếu có thiện chí, quyết tâm, trách nhiệm, sự tin cậy và nỗ lực chung, vấn đề khó khăn như biên giới lãnh thổ vẫn hoàn toàn có thể thống nhất giải quyết trên cơ sở của luật pháp quốc tế.

Thành tựu chung của Việt Nam và Campuchia cũng góp phần quan trọng củng cố, tăng cường đoàn kết ASEAN, nâng cao uy tín và vị thế của ASEAN trên trường quốc tế.

Để có được những thành quả này, dưới sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo cấp cao hai nước, Ủy ban liên hợp phân giới cắm mốc và các lực lượng trực tiếp tham gia công tác phân giới cắm mốc hai bên đã vượt qua nhiều khó khăn, phức tạp trong công tác, trong đó có thể kể đến như: mâu thuẫn về địa hình giữa bản đồ và thực địa; tình trạng sinh sống, canh tác quá sang nhau của cư dân hai bên biên giới; địa hình khu vực biên giới hiểm trở ở vùng núi, sình lầy ở vùng đồng bằng, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, giao thông đi lại khó khăn...

Bên cạnh đó, còn có những khó khăn do lịch sử để lại, việc một số thế lực sử dụng vấn đề biên giới vào mục đích chính trị tiêu cực, đi ngược lại quan hệ hữu nghị, mong muốn và lợi ích của hai dân tộc.

Thành quả này là sự báo đáp sâu sắc đối với các thế hệ đi trước, những người đã đóng góp nhiều công sức, trí tuệ và cả xương máu của mình đối với sự nghiệp biên giới lãnh thổ; sự tri ân đối với quan tâm và ủng hộ của nhân dân trong nước cũng như kiều bào ta ở nước ngoài cho công tác biên giới lãnh thổ nói riêng và công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung.

Sau khi 2 văn kiện pháp lý nêu trên được cấp có thẩm quyền của hai nước phê chuẩn, có hiệu lực và đi vào thực tiễn, hai bên sẽ tiến hành quản lý biên giới theo kết quả phân giới cắm mốc ghi nhận tại Nghị định thư phân giới cắm mốc, đồng thời tiếp tục duy trì sự quản lý hiện nay đối với các khu vực chưa hoàn thành phân giới cắm mốc theo quy định tại Hiệp ước bổ sung năm 2005.

Hai bên cũng cần sớm triển khai xây dựng và ký kết một Hiệp định để thay thế cho Hiệp định về Quy chế biên giới đã ký năm 1983 cho phù hợp với tình hình mới, nhằm đảm bảo an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội khu vực biên giới, tạo thuận lợi cho việc phát triển giao lưu mọi mặt giữa chính quyền và người dân hai bên biên giới nói riêng và giữa hai nước nói chung.

Chúng ta cũng hy vọng rằng thành quả này sẽ tạo động lực quan trọng để hai bên tiếp tục đàm phán giải quyết nốt 16% khối lượng công tác phân giới cắm mốc còn lại, tiến tới xây dựng hoàn chỉnh một đường biên giới đất liền Việt Nam-Campuchia hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đúng với phương châm quan hệ "láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài" giữa hai nước.