Truyện ngắn

Âm mưu và tình thương

THỨ BẢY, 30/04/2022 06:42:57

Minh họa: HUY CHƯƠNG

1. Bây giờ chị có anh. Có vĩnh viễn. Chân mày rậm. Đôi mắt u uẩn buồn. Gương mặt đôn hậu lồng vào bia đá.

Em biết, anh buồn em bằng nỗi buồn cả đời anh cộng lại. Em mà bền lòng chặt dạ ư? Bền lòng cái nỗi gì. Phản bội chồng. Theo giặc. Có những sai lầm mà con người ta không còn cơ hội để sửa sai. Mà anh cũng lạ thật. Người gì cao thượng đến ngạo nghễ. Giá như anh đừng rộng lượng. Giá như ngày trở về anh tát vào mặt em. Anh nguyền rủa em…

Tháng nào cũng vậy. Ngày rằm. Buổi chiều. Khi hoàng hôn rũ rượi lê bước vào cõi đêm. Chị đến nghĩa trang thắp nhang cho anh. Thì thầm với anh những vui buồn trong cuộc sống. Chị tin rằng ở cõi vô cùng anh nghe chị nói. Anh hiểu vì sao ngày thống nhất đất nước chị không trở lại với anh để sống với nhau hết quãng đời còn lại.

2.
Người xóm Gò chuyên trồng lúa và trồng cói. Những lúc nông nhàn, người ta thường ở bên khung dệt. Chiếu cói xóm Gò mẫu mã đẹp, bền nổi tiếng khắp vùng. Con gái xóm Gò tay bùn chân lấm. Vậy mà cô nào làn da cũng nõn nà. Tóc dài đen nhanh nhánh. Dáng dấp làm nghiêng ngả đàn ông.

Xóm Gò rất ít đàn ông, con trai vì họ âm thầm lần lượt lên đường tòng quân diệt giặc. Ban đầu cánh thanh niên thoát ly lên căn cứ làm cách mạng. Về sau những đàn ông đã có vợ con cũng tiếp bước lên đường.

Thằng Cang cầm đầu nhóm tuyên truyền về xóm Gò triệu tập nhân dân tham gia chống cộng. Hắn bắc loa kêu gọi rã họng từ sáng đến trưa chỉ vài cụ già lèo tèo đến ngồi nhấn nhá ở trụ sở ấp. Sợ bẽ mặt với dân xóm Gò, hôm sau thằng Cang được sự hỗ trợ của trung đội cảnh sát dã chiến áp sát từng nhà, lôi kéo từng người đến trụ sở ấp. Chi bộ xóm Gò do chị Ba Ràng làm bí thư đã lường trước tình huống này, lãnh đạo đội quân tóc dài kéo nhau giăng biểu ngữ rầm rập biểu tình chống bắt bớ người dân vô tội. Chiến dịch chống cộng của thằng Cang thất bại thảm hại. 

Ở xóm Gò, chị Thảo nức tiếng xinh đẹp có chồng tham gia kháng chiến. Chị được chị Ba Ràng giao nhiệm vụ mua thuốc Tây gởi lên căn cứ cách mạng và may cờ giải phóng. Một lần trên đường chuyển cờ cho cơ sở, Thảo bị cánh thằng Soạn, Cuộc, là Phó cảnh sát xã chặn đường lục soát. Hắn quét mắt cú vọ: “Cô hãy nói thật. Cô chứa truyền đơn hay tài liệu trong những bó chiếu cói kia?”. Thảo chột dạ, nhưng vẫn giữ được vẻ mặt bình thản: “Không có truyền đơn, tài liệu nào cả. Ông không tin thì cứ việc lục soát!”. Thằng Soạn hau háu nhìn làn da mỡ màng thoắt ẩn, thoắt hiện sau lưng áo của Thảo. Hắn mê mẩn, dọa đại một câu. Thấy Thảo không có biểu hiện sợ sệt thì định bỏ đi. Gã cảnh sát đi theo tiếc rẻ: “Chuẩn úy đã chặn cô ta lại, sao không lục soát. Biết đâu…”. Thằng Soạn do dự: “Thôi được. Mày cứ lục soát đi, nhưng đừng gây khó dễ cho người đẹp”. Hắn nhìn Thảo cười đề mi. Thảo không còn lòng dạ nào nghe hắn nói. Cô bấn loạn khi xấp cờ nửa xanh, nửa đỏ, sao vàng ở chính giữa hiện ra cùng lúc tiếng reo đặc quánh sát khí: “Đây rồi! Chuẩn úy thấy chưa? Cô ta là cộng sản nằm vùng”.

Thảo bị đưa lên xe chở thẳng về tống giam tại chi cảnh sát quận. Trong bốn bức tường tối tăm, ngột ngạt, chị đã chuẩn bị tinh thần chịu đựng mọi cực hình của kẻ thù để giữ vững khí tiết của một cơ sở cách mạng. Chị nghĩ đến chồng đã lâu rồi bặt vô âm tín. Con gái nhỏ dại thiếu bàn tay chăm sóc của mẹ. Chị xót xa.

Trái với dự đoán của Thảo, chị không hề bị tra tấn. Buổi sáng. Buồng giam xịch mở. Gã cảnh sát đưa tay ngoắt chị ra ngoài cửa, giọng nhát gừng: “Chị đi theo tôi!”. Thảo bước đi, lòng nung nấu ý chí: “Tụi bay đừng hòng khai thác được tao! Tao sẽ không bao giờ làm điều gì có hại cho cách mạng!”. Qua mấy dãy hành lang, gã cảnh sát đột ngột dừng lại trước căn phòng quét vôi màu xám. Hắn đưa tay gõ cửa. Từ bên trong có tiếng nói lạnh lùng vọng ra: “Vào đi!”.

Gã cảnh sát mở cửa đẩy Thảo vào trước. Hắn dậm gót chân, đưa tay ngang mày: “Trình đại úy! Tôi đưa can phạm vào gặp đại úy”. Gã Trưởng chi cảnh sát nhìn Thảo lườm lườm: “Chúng tôi thừa biết cô chuyển cờ cho ai nên không cần điều tra. Tôi nể tình thiếu úy Long bảo lãnh cho cô về. Cô liệu hồn đấy! Lần sau còn tiếp tay cho cộng sản thì tù mọt gông nghe chưa?”.

Thảo được chính gã thiếu úy Long đưa về tận nhà trước những ánh mắt dò xét, nghi hoặc của những người xóm Gò. Những ngày được trả tự do là những ngày Thảo cảm thấy ngột ngạt, bối rối vô cùng. Chị ra đường gặp người nào, họ cũng tránh mặt chị. Ngay cả những người thân thiết nhất cũng dè chừng khi gặp chị. Thảo xin gặp chị Ba Ràng để giãi bày, chị được kẻ địch tha bổng, nhưng chị không khai báo điều gì có hại cho cách mạng và chị cũng không hiểu vì sao chúng lại tha bổng chị. Chị Ba Ràng xa lánh, tổ chức không còn tin tưởng Thảo trong khi gã thiếu úy Long ngày nào cũng bám lấy chị. Gã mặt dạn mày dày: “Thảo không biết đó chứ anh để ý em từ lâu rồi. Chồng em đâu còn sống mà chờ đợi...”. Thảo độp lại: “Ông thiếu úy đã có vợ con đề huề. Là một sĩ quan, ông phải sống mẫu mực. Tại sao đi ve vãn một người đã có chồng?”. Hắn nghe vậy cười đểu giả: “Ối giời ơi! Em lo xa quá. Trai năm thê bảy thiếp là chuyện thường tình. Anh thương em thật mà Thảo!”.

Có những đêm tên Long đột ngột gõ cửa nhà Thảo. Chị sợ hàng xóm nghe thấy, hoài nghi mối quan hệ của chị với gã cảnh sát nên cho hắn vào nhà, lựa lời cảnh tỉnh. Hắn vẫn lì lợm. Vẫn thường xuyên đến nhà Thảo ngồi hàng giờ và tìm mọi cách giúp đỡ mẹ con Thảo. Mọi hy vọng nối lại đường dây với tổ chức tắt ngấm. Mưa lâu ngày thấm đất. Thảo ngã vào lòng gã cảnh sát trong một đêm trời mưa gió. Thằng Hổ là kết quả của mối tình già nhân nghĩa, non vợ chồng của hai người.

3.
Những ngày xóm Gò rùng rùng chuyển động theo đoàn quân giải phóng, Long biến mất. Anh ta nuốt chửng những lời hứa có cánh với Thảo: “Anh sẽ đưa mẹ con em sang định cư ở Hoa Kỳ. Đó là thiên đường của nhân loại”.

Giải phóng xóm Gò, rồi giải phóng miền Nam. Thảo vẫn quanh quẩn trong nhà. Nỗi mặc cảm trong chị lớn dần theo ngày tháng. Hòa, con gái chị lúc này đã mười bảy tuổi. Hổ mười bốn. Hai chị em hồ hởi hòa vào dòng người tràn ra đường reo mừng chiến thắng.

Một hôm, con Hòa đường đột hỏi Thảo: “Này mẹ, cha của con là bộ đội giải phóng phải không?”. Chị nghẹn ngào: “Cha con hy sinh rồi… Con đừng hỏi”. Con gái chị mếu máo: “Cha còn sống. Cha ở chiến trường xa chưa về…”. Thằng Hổ dường như đã hiểu được thân phận của mình. Nó lặng lẽ bước ra vườn, mặt buồn rười rượi.

Hơn tháng sau, Bình - chồng của Thảo trở về. Anh mang ba lô như đi trên mây. Con đường vào xóm Gò đi ra từ ký ức, tuy có thay đổi đôi chút. Dọc đường về nhà, người quen, người lạ đều vui mừng chào đón anh, xen lẫn những tiếng thở dài, cái nhìn thương hại. Ngôi nhà của vợ chồng Bình vẫn chỗ cũ, nhưng người xưa giờ đã đổi thay. Thảo lánh mặt sang nhà hàng xóm rồi về ở hẳn nhà cha mẹ ruột. Con gái anh ngơ ngác nhìn cha. Bình thả ba lô, lạt giọng: “Con là Hòa? Là con gái của cha?”. Hai cha con ôm nhau khóc ngất. Thằng Hổ khép nép tựa vào cột nhà. Nó nhìn hai người bằng ánh mắt bối rối.

Nhiều lần Bình đến thuyết phục vợ không thành, anh như kẻ thất chí, buồn bã, lang thang khắp xóm. Một hôm. Chị Ba Ràng bây giờ là Chủ tịch Hội Phụ nữ xã, cùng đi với Bình đến chỗ Thảo ở. Chị cầm chặt đôi tay của Thảo, nước mắt lưng tròng: “Chị đã sai rồi Thảo ơi! Ngày đó chị thiếu sáng suốt, không chịu tìm hiểu em kỹ càng. Chị mắc mưu thằng Long. Bao ngày qua chị sống trong day dứt. Em tha tội cho chị nghe Thảo!”. Thảo khóc như mưa. Nỗi oan tích tụ lâu năm và sự sai lầm xót xa vỡ òa trong nước mắt: “Em không còn xứng đáng làm vợ anh Bình… Em có tội với gia đình anh… Em không còn mặt mũi nào sống với anh nữa”. Bình uất nghẹn: “Đâu chỉ có chị Ba trúng kế của thằng Long, mà chính em cũng sa vào bẫy của hắn. Thằng Long bảo lãnh em ra khỏi trại giam là có âm mưu thâm độc. Nó ban ơn để chinh phục em. Xảo quyệt hơn, hắn gây hoài nghi, chia rẽ em với tổ chức, làm hoen ố thanh danh vợ của một cán bộ cách mạng, anh đều biết hết. Em không có lỗi Thảo ơi! Hãy về với cha con anh…”. Thảo lại vật vã: “Em không thể sống với anh được nữa. Anh hãy về đi!”.

4.
Trước ngày giải phóng xóm Gò, Long đưa vợ con vào Sài Gòn để trốn ra nước ngoài không thành. Hắn trở về trình diện với chính quyền cách mạng và đi cải tạo hơn 3 năm. Khi có Chương trình H.O (di dân sang Mỹ một cách có tổ chức), Long vui mừng như vớ được vàng ròng. Hắn không quên lôi kéo đứa con của hắn với Thảo. Nhưng thằng Hổ nhất định không theo.

Gần đây, ông Long trở về Việt Nam. Ngoài việc thăm bà con, xóm làng, còn có nguyện vọng hàn gắn tình cảm với người con trai nhiều năm qua không thừa nhận ông là cha. Lần này, ông Long đến nhà ông Bình không còn khí thế như cái ngày ông sắp xuất cảnh sang Hoa Kỳ. Nhà ông Bình vắng người. Hàng xóm cho biết ông Bình đang điều trị ở trong bệnh viện.

“Dạ, cho hỏi thăm… có phải anh Bình đó không?”. Bệnh nhân còn đang ngơ ngác thì khách mừng quýnh, vồn vã: “Đúng là anh Bình rồi! Tôi là Long cha của Hổ đây anh. Anh khỏe chưa ạ?”. Ông Bình nở nụ cười héo hắt:  “Chào anh! Mời anh ngồi uống nước. Anh về hồi nào?”. Hai người đàn ông một thời từng đối địch nhau, giờ tóc đã bạc. Họ bắt tay nhau. Cái nhìn bỗng thân thiện đến lạ: “Anh Bình ơi! Tôi lại thua anh một lần nữa!”. Bệnh nhân nở nụ cười mệt mỏi: “Tôi và anh làm gì có chuyện ai thắng, ai thua ở đây. Chiến tranh đã lùi xa rồi. Đừng nhắc lại chuyện cũ anh à! Chúng ta hãy nghĩ đến tương lai của bọn trẻ…”.

Thằng Hổ đến thăm cha nuôi không ngờ gặp cha ruột. Giọng nói của nó lạnh băng: “Chào chú!”. Niềm vui bỗng hiện lên trong ánh mắt của ông Bình: “Cái thằng lạ chưa! Gọi cha bằng chú mang tội bất hiếu đó con. Hãy nghe lời cha. Cha ruột của con đã biết lỗi. Con đừng cố chấp”.

Thằng Hổ chưa cất nổi tiếng gọi cha với ông Long. Nhưng qua cái nhìn của nó đối với người cha ruột đã có phần dịu đi rất nhiều so với cái nhìn trước khi ông Long xuất cảnh sang Hoa Kỳ sinh sống.

  Truyện ngắn của TRẦN QUỐC CƯỠNG