Liên Xô biết Đặng Tiểu Bình sẽ đánh Việt Nam

THỨ NĂM, 14/02/2019 14:28:20

Theo đài BBC, một tài liệu ngoại giao của Mông Cổ thời XHCN cho hay từ ngày 9.2.1979, Liên Xô đã biết Đặng Tiểu Bình sẽ tấn công Việt Nam.

Tuy vậy, giới chức Liên Xô khi đó chia sẻ với Thứ trưởng Ngoại giao Mông Cổ, ông D. Yondon rằng Hà Nội thừa sức chống lại quân Trung Quốc.

Đặng Tiểu Bình và Jimmy Carter tháng 1.1979
Quan hệ Mỹ - Liên Xô là quan trọng nhất

Tài liệu đã giải mật hiện được lưu trữ tại Wilson Center (Hoa Kỳ) cho biết biên bản của Đại sứ quán Mông Cổ ở Moskva về chuyến thăm của Thứ trưởng Yondon đã bàn nhiều về căng thẳng trong khu vực châu Á.

Tiếp ông Yondon và phái đoàn Mông Cổ vào hai dịp khác nhau trong ngày 9/2/1979 là Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Liên Xô Viktor Maltsev và Vụ trưởng Vụ Viễn Đông I. Mikhail Kapitsa.

Hai bên đã thảo luận về tình hình Mông Cổ, quan hệ Xô - Trung, căng thẳng Việt - Trung và tình hình Triều Tiên.

Phía Liên Xô lên án chuyến thăm của Đặng Tiểu Bình sang Hoa Kỳ và cho rằng “chuyến đi nhằm đem Trung Quốc vào quỹ đạo và ô hạt nhân của Mỹ, giải tỏa vấn đề Đài Loan và ngưng thỏa thuận SALT-2”.

Tuy nhiên, quan chức Liên Xô nói thẳng với đồng minh Mông Cổ rằng: “Quan hệ Trung - Mỹ phụ thuộc vào tầm vóc và mức độ của quan hệ Xô - Mỹ” và rằng “Đặng Tiểu Bình đã phạm một sai lầm lớn”.

Quan chức Bộ Ngoại giao Liên Xô đã cười nhạo Đặng Tiểu Bình, trích báo Mỹ gọi ông ta là “cá ăn thịt người biết cười' (smiling barracuda).

Theo phía Liên Xô, Mỹ thừa hiểu sự nguy hiểm của việc Hoa Kỳ bị kéo vào một phe của chiến tuyến chống Liên Xô.

Bộ Ngoại giao Liên Xô cũng tin rằng mục tiêu xin trợ giúp tài chính từ Mỹ của Đặng Tiểu Bình để hỗ trợ “bốn hiện đại hóa “sẽ không thành”.

Vụ trưởng Mikhail Kapitsa cũng cho phía Mông Cổ biết Liên Xô sẵn sàng hủy Hiệp ước Tương trợ Liên Xô - Trung Quốc ký từ năm 1950, nhưng đợi để phía Trung Quốc ra quyết định trước.

Liên Xô lo ngại về căng thẳng biên giới Việt - Trung

Về tình hình Việt Nam, ông Kapitsa nói: “Những gì đang xảy ra ở biên giới Việt Nam khiến Liên Xô rất lo ngại. Trung Quốc đã tập trung 18 sư đoàn ở biên giới nhưng quân đội Việt Nam có một triệu quân và được trang bị tốt, huấn luyện tốt, có khả năng chiến đấu cao”.

“Nếu xảy ra chiến tranh đánh Việt Nam, đối thủ sẽ phải đánh tốt, nếu không sẽ bị nghiền nát. Và nếu xảy ra chiến tranh, dư luận thế giới sẽ ủng hộ Việt Nam. Trung Quốc thực sự sợ Liên Xô. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ tấn công một trận vào Việt Nam. Nhiều khả năng họ làm như đã làm với Ấn Độ năm 1962, xâm nhập vào 20-30 km, sau đó họ sẽ tìm cách bắt sống nhiều bộ đội Việt Nam để đáp trả việc Việt Nam bắt quân Trung Quốc ở Campuchia (?)”.

Ông Kapitsa nói đùa rằng phía Việt Nam “có thể đánh ngược vào đất Trung Quốc 10-15 km”.

Phía Liên Xô nói với phái đoàn Mông Cổ rằng “Nếu có nhu cầu tấn công Trung Quốc để bảo vệ Việt Nam, chúng tôi sẽ cho các anh biết”.

Liên Xô khẳng định các quân đoàn ở Viễn Đông và quân khu Zabaikal đã nhận quân lệnh đặc biệt.

Cuộc trao đổi đi tiếp sang đấu đá nội bộ Đặng Tiểu Bình - Hoa Quốc Phong tại Trung Quốc mà Liên Xô cho rằng như “hai con dê qua cầu” và một con “có thể lộn cổ xuống suối”.

Nhìn chung, trong trao đổi ngoại giao, quan chức Liên Xô không giấu sự ghét bỏ với lãnh đạo Trung Quốc.

Ông Mikhail Kapitsa nói với Thứ trưởng Mông Cổ rằng cả Đặng và Hoa “đều là hai kẻ lạc hậu trong tư duy và không biết điều hành kinh tế.”

Vào thời điểm đó, Liên Xô tin rằng “phải đến năm 2000, Trung Quốc mới đạt mức khai thác dầu bằng Liên Xô năm 1977” - và rằng chương trình hiện đại hóa kinh tế của Đặng Tiểu Bình cần 60% vốn nội bộ, và 40% từ bên ngoài mà Trung Quốc sẽ “không thể nào trả nổi”.

Ngày 17.2.1979, Trung Quốc đồng loạt tấn công các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam trong cuộc chiến kéo dài đến ngày 16.3.

Liên Xô đã lên án mạnh mẽ nhưng không tấn công Trung Quốc ở vùng Viễn Đông và chỉ hỗ trợ Việt Nam từ xa.

Thái độ của Mỹ khi Đặng Tiểu Bình đánh Việt Nam năm 1979

Năm 1978 - 1979, khi Mỹ - Trung chủ động tiến gần đến nhau, hai chính khách quan trọng nhất trong tiến trình bình thường hóa quan hệ Mỹ - Trung là Zbigniew Brzezinski, Cố vấn an ninh cho Tổng thống Mỹ và Đặng Tiểu Bình, Phó Thủ tướng Trung Quốc.

Trong ngoại giao Mỹ, chiến lược détente (hòa hoãn) của Henry Kissinger đặt quan hệ Mỹ - Xô và Mỹ - Trung ngang nhau.

Tuy nhiên, Brzezinski, khi trở thành cố vấn an ninh của Tổng thống Jimmy Carter, chọn chiến lược công khai liên minh với một trong hai cường quốc cộng sản, buộc kẻ còn lại rơi vào sự cô lập. Ảnh hưởng ngày càng tăng của ông cố vấn, cùng với những tính toán của Bắc Kinh, là yếu tố quan trọng khiến sự tái lập quan hệ Mỹ - Việt trở thành bất khả.

Khi Jimmy Carter trở thành chủ nhân Nhà Trắng, việc phục hồi quan hệ với Việt Nam được ông xem là một phần của quá trình hàn gắn vết thương cho nước Mỹ.

10 ngày sau khi nhậm chức tổng thống, Carter gặp Ủy ban Quốc hội về người mất tích ở Đông Nam Á (Ủy ban Montgomery) và lặp lại lời hứa khi tranh cử là sẽ gửi phái đoàn đến Việt Nam để bàn vấn đề Tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam (MIA). Khác với người tiền nhiệm Gerald Ford, Carter chỉ thị không đặt MIA làm điều kiện tiên quyết cho đàm phán.

Vấn đề tái lập quan hệ chính thức với Trung Quốc cũng nằm trên bàn nghị sự của tổng thống.

Tuy nhiên, Carter chỉ trích nặng nề lập trường của Nixon - Kissinger đối với Trung Quốc: “Chúng ta không nên bợ đỡ họ như cách Nixon và Kissinger đã làm”.

Ban đầu, Carter nghe theo đề nghị của Ngoại trưởng Cyrus Vance là bình thường hóa quan hệ với cả Bắc Kinh và Hà Nội.

Trong khi đó, đứng trên lập trường chống Liên Xô của một người Mỹ gốc Ba Lan, Brzezinski ngả về phía Trung Quốc để lên án cả Moskva và Hà Nội.

Với lập trường chống Liên Xô, Brzezinski ngay từ đầu năm 1978 đã xem xung đột Việt Nam - Campuchia là một “cuộc chiến ủy nhiệm giữa Trung Quốc và Liên Xô”.

Mỹ và Trung Quốc chính thức phục hồi quan hệ ngoại giao vào ngày đầu tiên của năm 1979. Một tuần sau, quân đội Việt Nam tiến vào thủ đô Phnom Penh.

Khả năng bình thường hóa quan hệ với Mỹ nay được đặt ra với điều kiện Hà Nội rút toàn bộ quân đội ra khỏi Campuchia.

Đặng Tiểu Bình, trong vai trò Phó Thủ tướng, Tổng Tham mưu trưởng quân đội, bay đi Washington ngày 28.1.1979.

Vài giờ sau khi tới Washington, Đặng ăn tối tại nhà Cố vấn an ninh quốc gia Zbigniew Brzezinski. Tại đây, ông gây ngạc nhiên khi yêu cầu có cuộc họp đặc biệt với Tổng thống Jimmy Carter để bàn chuyện Việt Nam.

Ngày 29.1, tại Phòng bầu dục, Đặng Tiểu Bình cùng Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Hoa, Thứ trưởng Ngoại giao Zhang Wenjin - tiếp xúc với Tổng thống Carter, Phó Tổng thống Walter Mondale, Ngoại trưởng Cyrus Vance và Brzezinski.

Theo ghi chép của Brzezinski, lãnh đạo Trung Quốc tiết lộ quyết định sắp đánh Việt Nam.

Đặng Tiểu Bình nói để đáp trả sự bành trướng của Liên Xô, Bắc Kinh “thấy cần thiết kìm hãm tham vọng của Việt Nam, cho họ một bài học hạn chế phù hợp”.

Đặng Tiểu Bình cũng nêu khả năng Liên Xô sẽ phản ứng ra sao. Trong “khả năng xấu nhất” - Trung Quốc “sẽ cầm cự” và chỉ yêu cầu Mỹ “ủng hộ tinh thần” trên trường quốc tế.

Tổng thống Carter không phản hồi, mà chỉ nói Trung Quốc cần kiềm chế trong tình hình khó khăn.

Carter nói không nên đánh Việt Nam

Ngày hôm sau, Đặng Tiểu Bình nhận lá thư tay của Carter, nói Trung Quốc không nên đánh Việt Nam.

Tổng thống Mỹ nói chiến tranh trừng phạt hạn chế không có tác dụng với việc Việt Nam chiếm đóng Campuchia, và có thể kéo Trung Quốc vào hố sâu.

Có nhiều đánh giá khác nhau về lá thư tay này của Carter. Ví dụ, Gregg A. Brazinsky, trong sách “Winning the Third World: Sino-American Rivalry during the Cold War” (in năm 2017), cho rằng Nhà Trắng muốn tránh bị xem là đồng lõa với Trung Quốc nhưng cũng không muốn phá vỡ việc bình thường hóa với Trung Quốc.

Vì vậy, giải pháp là lá thư tay của Carter. Mỹ hiểu rằng lá thư không đủ để ngăn cản Trung Quốc. Tuy nhiên, với việc viết thư, Tổng thống Carter có thể làm “im lặng” những người chỉ trích trong khi không phải trừng phạt Trung Quốc.

Đến ngày 30/1, lại gặp Carter lần nữa, Đặng Tiểu Bình khẳng định phải trừng phạt Việt Nam và rằng quân Trung Quốc sẽ chỉ đánh ngắn ngày.
Zhang Xiaoming, trong cuốn “Deng Xiaoping's long war: the military conflict between China and Vietnam, 1979-1991” (in năm 2015) nói Đặng không tin rằng Mỹ sẽ lên án Trung Quốc vì hành động quân sự.

Khi quay về Bắc Kinh, Đặng Tiểu Bình dường như đánh giá Mỹ đã không bác bỏ hay chỉ trích kế hoạch đánh Việt Nam, và đã có quan hệ chiến lược mới giữa hai nước để chống Liên Xô.

Hai ngày sau khi Đặng Tiểu Bình về Bắc Kinh, ngày 11.2, Bộ Chính trị Trung Quốc họp bàn. Tại đó, Đặng Tiểu Bình giải thích mục tiêu tấn công Việt Nam.

Quân khu Quảng Tây và Vân Nam nhận lệnh tấn công.

Ngày 14.2, Trung ương đảng Trung Quốc gửi văn bản cho các chi bộ, quân khu, bộ ngành giải thích rằng cần đánh Việt Nam để tự vệ. Theo Zhang Xiaoming, văn bản nói rõ chiến tranh sẽ chỉ hạn chế về không gian, thời gian và quy mô.

Trước đó, ngày 6.2, cố vấn Brzezinski có văn bản gửi Tổng thống Carter, trong đó, Brzezinski nói Mỹ không nên công khai ủng hộ hay lên án việc Trung Quốc đánh Việt Nam.

Brzezinski khuyên Carter hãy kêu gọi rút toàn bộ quân các bên khỏi Đông Dương, tức là đòi cả Trung Quốc và Việt Nam rút quân. Nó sẽ giúp khủng hoảng kết thúc mà không làm bên nào “có vẻ” phải đầu hàng.

Theo Gregg A. Brazinsky, sau khi chiến tranh xảy ra ngày 17.2, Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Brzezinski tiếp tục giúp củng cố quan điểm của Trung Quốc dù đôi khi Brzezinski gặp phản đối từ Bộ Ngoại giao Mỹ.

Trong suốt ba tuần chiến tranh nổ ra, Brzezinski thành công khi bác bỏ ý kiến của Bộ Ngoại giao Mỹ muốn trừng phạt Trung Quốc.

Trong lúc chiến sự diễn ra, Brzezinski mỗi buỗi chiều lại gặp Đại sứ Trung Quốc Sài Trạch Dân để thông báo hoạt động của quân Liên Xô dọc biên giới Xô - Trung và thông báo những thông tin tình báo vệ tinh khác.

Từ đầu năm 1978 trở đi, cùng với ảnh hưởng gia tăng của Brzezinski, Washington không còn xem Hà Nội là một nước độc lập trong vùng mà là một “Cuba phương Đông” - tiêu biểu cho tham vọng bành trướng của Liên Xô.

Lập trường đối ngoại của Brzezinski tìm thấy điểm chung ở ban lãnh đạo Trung Quốc.
Theo TTXVN

Comment

Vui lòng nhập tiếng việt có dấu