Thứ năm, 24/08/2017 15:51PM
Báo Hải Dương điện tử có các chuyên trang: Hải Dương online, văn nghệ và chuyên trang tiếng Anh cập nhật liên tục tin tức trong ngày
Văn học nước ngoài
"Cái bình thường – bất tử" trong truyện kể Andersen
  01/09/2015 14:19:57 PM
 Năm nay nhân dân Đan Mạch và thế giới bạn đọc sẽ kỷ niệm 210 năm sinh đại văn hào Hans Christian Andersen (1805-1875). Trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật, giới sáng tác thường hay tranh luận rằng, nếu viết theo đề tài kịp thời trước mắt thì chỉ dừng lại ở mức độ tuyên truyền chứ khó lòng đạt tới tầm giá trị vĩnh cửu. Song điều này có lẽ chưa hẳn đã phù hợp với tài năng của H.C.Andersen.

 

 

Trong số 175 truyện kể để lại cho đời, có không ít truyện được tác giả xây dựng và phát triển dựa vào huyền thoại, truyền thuyết, cổ tích dân gian Đan Mạch và Bắc Âu, còn khá nhiều tác phẩm được nhà văn lấy đề tài, cốt truyện sống động hiển hiện thường ngày trên chính quê hương ông nhằm phản ánh đời sống của con người và xã hội đương thời, tạo nên sức hấp dẫn diệu kỳ cho ngàn triệu người trên khắp hành tinh.

Trước hết phải kể đến truyện viết về hình ảnh người mẹ trong truyện Em bé bán diêm. Theo Nhật ký, câu chuyện được nhà văn viết liền mạch suốt trong đêm 18 rạng ngày 19/11/1843. Nhớ lại ngày nào lời mẹ kể về bà ngoại từng bảo mẹ Andersen ra đường ăn xin trong đêm giao thừa từ lúc còn bé xíu. Song thực chất mẹ cậu chỉ đi ra đường, rồi đứng lặng yên dưới gầm cầu Odense- chốn thành phố quê hương- vừa khóc, vừa rên rỉ: “Tôi chưa hề ngửa tay xin của ai cái gì bao giờ! Tôi ngồi mãi dưới gầm cầu, đói quá, bèn nhúng tay vào nước sông, rồi giơ tay lên nhỏ từng giọt vào lưỡi, bởi tôi nghĩ may ra điều đó sẽ giúp tôi khá hơn chăng? Nào ngờ mệt quá, tôi ngồi ngủ thiếp đi, lúc tỉnh dậy mò về nhà với hai bàn tay không, mẹ tôi liền mắng té tát: Mày quả là con bé ăn hại ngốc nghếch!”.

Bắt nguồn từ đấy, 30 năm sau, nhà văn sáng tác nên truyện Em bé bán diêm theo yêu cầu khẩn thiết của người bạn chí thân để kịp ra mắt cuốn niên lịch năm mới. Hình tượng cô bé không giày dép với đôi chân trần dẫm trên băng tuyết, đầu không mũ, tuyết bám đầy mái tóc dài, xuất hiện giữa đêm tất niên giá lạnh. Rét quá, em bé bật một que diêm, nào ngờ khi ánh lửa diêm lóe sáng, ngọn lửa lúc đầu xanh lam dần dần biếc đi, trắng ra, rực hồng lên; bật que diêm thứ hai em lại thấy bức tường biến thành một tấm ren bằng vải màn xuất hiện nhìn thấu vào trong nhà: Một bàn cỗ bày sẵn một con ngỗng quay; song kỳ diệu nhất là ngỗng nhảy ra khỏi đĩa, tiến về phía em. Bật que diêm thứ ba bỗng thấy một cây thông Noel lộng lẫy với hàng ngàn ngọn nến sáng rực rồi bay lên cao biến thành những ngôi sao trên trời. Đến que diêm thứ tư, bà em xuất hiện mỉm cười với em. Em liền bật hết bao diêm để níu kéo bà ở lại. Bà cầm lấy tay em rồi bay vút lên cao, cao mãi; thế là chẳng đói, chẳng rét mướt đau buồn nào đe dọa nữa. Họ đã bay về trời!

Rõ ràng câu chuyện được bắt đầu từ một tình huống bi thảm giữa đêm giao thừa, nhưng với lòng nhân hậu tràn đầy, nhà văn đã kết thúc bằng một hình ảnh huy hoàng: Em gái có đôi má hồng và đôi mắt đang mỉm cười… tuy đã chết cóng, song nào ai biết được bao điều kỳ diệu em đã thấy, nhất là cảnh rực rỡ lúc hai bà cháu bay lên trời cao để đón hưởng niềm vui đầu xuân…

Ở Việt Nam, tác phẩm này từ lâu đã được đưa vào sách giáo khoa (1925), được dựng thành nhạc kịch truyền thanh, được dịch thành thơ và hàng năm còn được các học sinh thi đọc diễn cảm ở các câu lạc bộ, vẫn chan chứa sức sống nhân văn thấm đẫm nét trữ tình lãng mạn.

Bạn hãy đọc thêm truyện Chim họa mi, câu chuyện này cũng được xuất hiện trong niên lịch mượn danh Truyện Tàu (1838), bởi vào đầu thế kỷ XIX châu Âu nẩy sinh thứ mốt thời thượng thích đọc Truyện Tàu. Với giọng điệu “kỳ diệu nhất trên đời, họa mi cất tiếng hót hay đến nỗi vị Hoàng đế vô cùng cảm động, nước mắt trào ra”. Tiếng hót họa mi sống cạnh nhà vua thổi vào tâm hồn vua một sức sống bền vững. Nhưng rồi bọn nịnh thần đem thay vào đó một thứ chim họa mi giả tân kỳ được mang từ Nhật Bản tới. Đương nhiên đến lượt họa mi thật  bị đuổi khỏi cung điện.    

Rõ ràng là không còn dừng lại cho trẻ em nữa, mà câu chuyện đậm đà hơn,  chủ yếu dành cho các vua quan chốn cung đình từ đông sang tây vốn thường hay xẩy ra trong các vụ tranh giành chức quyền, nhằm bóc  trần  cái thật cái giả, cái thiện cái ác luôn diễn ra quyết liệt giữa các triều đại vua chúa. Nào ngờ chẳng bao lâu sau, con chim bằng máy bị hỏng, nhà vua lâm bệnh thập tử nhất sinh, họa mi thật biết tin vội bay từ rừng về cứu nhà vua khỏi bệnh bằng tiếng hát du dương của chính mình. Nhà vua thiết tha van nài họa mi ở lại chốn điện ngọc sang trọng sung sướng, nhưng chim dứt khoát bay đi để hót cho mọi người nghèo khổ cùng nghe. “Còn tôi, tôi không thể ở trong cung được. Nhưng xin nhà vua hãy cho phép chim được tự do muốn tới lúc nào thì tới. Chiều chiều chim sẽ đến trên cành cây gần cửa sổ này hót lên cho nhà vua vui vẻ hoặc mơ màng. Chim sẽ hót lên cuộc đời của những kẻ sung sướng cũng như cuộc đời của những người đau khổ. Chim sẽ hót lên những việc tốt và những việc xấu người ta làm xung quanh nhà vua... Họa mi này trọng tấm lòng nhà vua hơn ngai vàng, mặc dù ngai vàng có tính chất thiêng liêng…” .  

Phải chăng đây chính là tuyên ngôn nghệ thuật của văn hào Andersen? Bởi trên thực tế các nhà vua Đan Mạch, Thụy Điển cùng một số nước châu Âu đều long trọng tiếp đón, trao tặng huân chương danh dự và muốn mời nhà văn giữ một chức vụ cao, tượng trưng cho một thứ chim họa mi danh dự tài hoa chốn cung đình đầy sức thu hút giới văn nghệ sĩ trí thức? Tuy vậy, nhà văn đều tìm mọi lý do để khước từ, mà chỉ chuyên tâm sáng tác cho mọi người cùng đọc. 

Dù đã cách xa gần hai trăm năm, song câu chuyện Chim họa mi vẫn nóng hổi nét thời sự giữa đời thường muôn mặt ngày nay từ tây sang đông.

Đọc truyện kể Andersen, bất kỳ ai cũng không thể quên được tiếng cười trong truyện Bộ quần áo mới của Hoàng đế. Từ nguồn gốc Tây Ban Nha ở thế kỷ XIII, truyện xuất hiện ở Đan Mạch vào năm 1837. Nhà văn có thêm bớt một số chi tiết. Nếu mới nghe qua cứ ngỡ là chuyện tiếu lâm tếu táo, đâu phải chuyện chốn vua chúa quyền cao chức trọng. Song ý nghĩa sâu xa là ở chỗ nhà văn muốn phơi bày một sự thật rằng, chốn thâm cung cũng không ít kẻ lòng tham vô đáy, khoe quyền, khoe tài, khoe sắc và dùng mọi thủ đoạn nịnh hót, tìm đủ mọi mánh lới để kiếm chức quyền và tiền bạc dù phải cúi đầu quay lưng trước sự thật. Từ đấy họ bất chấp mọi lẽ phải trái trên đời, thậm chí cả những điều đên rồ phi lý nhất. Và duy nhất chỉ có mỗi đứa bé vô tư, thật thà dám nói thật, nói thẳng qua mắt nhìn của chính mình: Ồ, nhà vua cởi truồng!

Cốt truyện có vẻ đơn giản, nhưng thực chất lại mang sức nặng xã hội rất lớn. Phía sau lời kể là tiếng cười phê phán mãnh liệt đối với chế độ phong kiến vua quan đang ngự trị khắp châu Âu thời bấy giờ. Và cho đến tận ngày nay, câu chuyện nhà vua cởi truồng vẫn vang lên tiếng cười châm biếm sâu cay mỗi lần có ai đó nhắc lại.

Trong hệ thống truyện kể của Andersen, truyện Cái bóng là đậm chất hiện đại giống như một truyện ngắn đầu thế kỷ XX. Dù đã được ra mắt vào năm 1847, đây là câu chuyện lạ lẫm mang nhiều nét bí hiểm. Nhà văn sử dụng thủ pháp “mặt nạ”, một thủ pháp trò chơi trong vũ hội trá hình dân gian truyền thống phổ cập ở châu Âu– nhằm kể câu chuyện ly kỳ mà vẫn đậm chất đời thường: “Ở các xứ nóng, ánh nắng gay gắt thật sự. Dân cư da dẻ đỏ sẫm như màu gỗ gụ. Nhà bác học nọ từ xứ lạnh tới… Đó là một chàng trai trẻ rất lực lưỡng, nhưng vì nóng nực ông ta lâm vào tình trạng rất đáng sợ. Ông ta gầy đi rất nhiều và ngay cái bóng của ông cũng teo tóp đi!” 

Gắn mình với nhà bác học từng bước đi dáng đứng, cái bóng nhận biết rõ mọi thứ tốt xấu trên đời. Hắn biết nhà bác học đến đâu cũng được đón đưa trọng vọng, kể cả các nàng công chúa chốn cung đình giàu có đầy quyền lực. Cái bóng dùng phép đánh tráo để lừa nàng công chúa rằng, chính hắn là bác học và hắn bèn nói ngược “cái bóng của tôi đang đứng gần cửa kia kìa cũng có thể giải đáp cho nàng… mọi thứ thắc mắc trên đời mà nàng không hiểu”. Hắn còn khôn khéo dặn nàng: “cái bóng của tôi rất kiêu ngạo, phải coi nó như một người thật và phải đối xử với nó làm sao để lừa nó vừa lòng thì nó mới trả lời tử tế ”… Nàng công chúa tin là thật, tới gặp nhà bác học và ông ta đã giải đáp thỏa mãn nàng đủ thứ về mặt trăng, mặt trời, về thể chất và tâm hồn con người… Nàng nghĩ thầm cái bóng của chàng giỏi đến vậy, thì hẳn chàng còn giỏi biết bao nhiêu? Mình mà lấy được chàng thì thật là vạn hạnh cho nước nhà và trăm họ. Nàng bèn ngỏ lời với “cái bóng”, và cả hai đồng tình giữ bí mật cho đến khi nàng trở về nước nhà, sau những ngày nghỉ bên bờ biển để chữa bệnh mắt bị sáng quá. Vậy là cái “mặt nạ” mà cái bóng đeo thật chặt đã sắp thành công. Màn diễn kết thúc: “Đến tối thành phố sáng trưng, súng thần công nổ ầm vang. Lễ cưới tưng bừng. Quân lính bồng súng chào. Công chúa và cái bóng bước ra bao lơn vẫy tay chào ra mắt để thần dân tung hô chúc tụng thêm. Nhà bác học đáng thương chẳng hề được nghe thấy những lời hô ấy. “Người ta đã giết ông rồi!”

Tuy đậm nét bí hiểm, ly kỳ, thật giả lẫn lộn, nhưng tình huống và diễn biến tâm lý bề ngoài vẫn hợp lô gic. Nếu mới xem qua, người đọc có thể ngạc nhiên đến buồn cười, song khi ngẫm lại sẽ thấy trên đời này thiếu gì cảnh dối trá lừa đảo đến khủng khiếp thường vẫn xuất hiện hàng ngày trước mắt mọi người khắp bốn phương…

Bút pháp Andersen không thể hiện theo phong cách truyện cổ, mà được hướng theo lối viết hiện đại (modernism), người đọc cứ ngỡ như như truyện ngắn tân thời. Giọng điệu châm biếm pha tiếng cười hài hước sâu cay nhẹ nhàng tựa như đang kể chuyện cho trẻ em về “anh chàng không có râu và một nàng công chúa tinh mắt mà như mù”.        

Nếu có điều kiện nghiên cứu sâu vào hệ thống truyện kể Andersen, người đọc có thể cảm nhận đầy đủ sức sống lâu bền của các tác phẩm luôn gắn kết với chất nhân đạo dân gian sâu sắc không tách rời yếu tố trữ tình lãng mạn xuyên suốt thời gian, vượt mọi không gian hướng tới một niềm tin yêu đối với con người trong hiện tại và cả tương lai. Từ đấy bay lên tiếng cười lạc quan, mà vẫn không thiếu nét hài hước nhằm phê phán hiện thực trước mắt.   

Người viết bài này, một lần tới Đan Mạch dự hội thảo (1995) về Andersen tại thành phố Odense - quê hương đại văn hào- có ghé thăm gia đình một bác sĩ ở thủ đô Copenhaghen rất quý mến Việt Nam, ông ta thân mật nói “Andersen viết truyện cho trẻ em, nhưng là để nói chuyện với người lớn”. Tôi thiết nghĩ, ông ấy hiểu sâu sắc nhà văn quê ông. Nét tài hoa diệu kỳ của nhà văn ở chỗ chỉ là những chuyện đời thường gặp, cứ ngỡ như kể chuyện vui cho trẻ con, nhưng mỗi khi đi qua đôi mắt và ngòi bút của Andersen thì trong thẳm sâu tác phẩm lại lấp lánh tỏa sáng tình người sâu nặng. Chính vì thế mà dù đã cách xa gần hai thế kỷ, văn hào H.C.Andersen vẫn được người đọc năm châu bốn biển hâm mộ đến sùng bái. Các truyện kể của ông vẫn làm say mê bao người đọc và được dựng thành nhiều bộ phim nổi tiếng sống mãi với thời gian, mà Nàng tiên cá hình tượng đẹp đẽ hấp dẫn nhất.     

Theo tôi, không nên dịch là Truyện cổ H.C.Andersen (sách tiếng Việt đã xuất bản), vì thực chất không phải là truyện cổ tích được sưu tập theo kiểu Truyện cổ Grimm, hay Truyện cổ Nguyễn Văn Ngọc, mà nên dịch là Truyện kể Andersen (conte-fairy tale), vì chính Andersen đã làm phong phú thêm qua sáng tạo bằng nhiều nét hư cấu trên cơ sở bao chuyện đời có thật thường gặp diễn ra hàng ngày giữa mạch sống dân gian. Bởi một lần, có người phỏng vấn trực tiếp: “Các truyện của ông có giống như các truyện cổ của Anh em Grimm hay không?” Không chút ngần ngại, nhà văn thẳng thắn trả lời: “Không Anh em Grimm chỉ sưu tầm, còn Tôi sáng tác”.

Quả là cái “bình thường đã trở thành bất tử” qua ngòi bút thiên tài của H.C. Andersen!...

Theo vanvn.net
 
Thăm dò ý kiến
Làm gì để đẩy nhanh dự án xây dựng khu lưu niệm Tự lực văn đoàn?
Tiếp tục để UBND thị trấn Cẩm Giàng làm chủ đầu tư
Giao Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch làm chủ đầu tư