Tiếng trở mình của mẹ già 75 tuổi vừa trải qua
trận đau tim làm cho đêm đầu xuân thêm se lạnh. Gà gáy canh ba, mẹ đã
dậy bảo “vậy là tháng chạp cạp lưng nong rồi...!”. Trong ký ức tuổi thơ tôi, ngày tết còn đọng lại đôi quang gánh của mẹ với lượt đi thì nặng, khi về nhẹ tênh.
 |
| Ảnh minh họa (ảnh dự thi Xuân hân hoan của NGUYEN VAN DUNG) |
Làng tôi vốn là làng cát nghèo với đặc sản bí bầu, dưa
leo, sắn nước, củ khoai được chắt chiu từ những giọt mồ hôi trên những
đồi cát chay ngút khói mỗi mùa hè nắng cháy. Ngày tết, khi cái nắng
hanh hao vàng trên những đọt tre, lùm chuối đầu nhà thì cũng là lúc
những người dân làng cát thu hoạch sản vật của quê mình đưa ra chợ tết.
Nửa thúng củ khoai mài, dăm chục quả dưa, rổ đậu côve và hơn 1 cân ớt.
Ở quê tôi, đến ngày 23 tết, nhà nào cũng có hộc cốm để
cúng ông Táo. Ấy vậy mà từ vụ lúa hè thu, đằng nào mẹ tôi cũng dành
riêng một góc ruộng “rộc” để cấy nếp. Mùa thu hoạch, nếp được tuốt
riêng, phơi khô, quạt sạch và cho vào cốt cất cho dẻo. Tết đến, nếp vỏ
được máy, quạt sạch, nhặt thóc, phần để nổ cốm, phần để gói bánh tét
vào ngày 30, kịp dâng lên bàn thờ gia tiên trong đêm giao thừa.
Tầm 20 tháng chạp là đầu làng đến cuối làng lại nghe
tiếng đì đùng nổ cốm. Hạt nếp được làm sạch, đưa đến lò nổ. Chiếc bình
rang bằng thép, giống hệt chiếc bình ôxy được quay đều trên lửa than
hồng. Đến 15 phút sau khi cho nếp vào, bình rang được đặt trên kệ gỗ,
phía trước họng bình là chiếc lồng bằng bao bố được may kín 3 phía. Khi
chiếc búa vừa hạ xuống là chúng tôi lại né ra thật xa để tránh tiếng nổ
đùng chát chúa.
Những bông cốm nếp trắng xóa được mang về, giã trong
chiếc cối gỗ cho thành bột, trộn với đường đen và được cho vào khuông
gỗ, in thành những viên cốm trắng ngà. Đấy là món không thể thiếu của
quê tôi ngày tết.
Tôi thường lẽo đẽo theo mẹ đi nổ cốm và ăn ngay những
bông cốm còn nóng hổi, thơm lừng. Tầm 26, 27 tết là tiếng heo kêu en ét
ở đầu làng. Tôi lại cùng má cắp rổ đến đội sản xuất để chia thịt. Thịt
được xả chia theo khẩu, nhà nhiều được chừng 4 cân, ít thì 1,5 cân, đủ
làm mâm cơm cúng tất niên và đó cũng là lần duy nhất trong năm tôi được
ăn thịt.
Ngày giáp tết, mỗi lần mẹ đi chợ là mẹ lại nặng quang
gánh. Chục cân khoai mẹ đổi lấy vài ký đường. Hai thúng dưa leo mẹ lại
mang về 1 buồng chuối xanh... Cho đến khi không còn gì để bán, mẹ lại
chống tay ngang cằm thở dài “tiền vô nhà khó như gió vô nhà trống...”.
Nhà đông con, chúng tôi đứa có áo mới thì lại không có
quần. Thằng em út được ưu tiên nhất nhà, được cả áo lẫn quần nhưng đôi
dép nhựa và chiếc mũ lưỡi trai vẫn dùng đồ cũ. Nhìn chúng tôi không đủ
quần áo mới, mắt mẹ lại ngân ngấn nước “còn mấy phuy lúa, phải để dành
đủ giáp hạt!”... Ngày ấy, tôi không hiểu hết câu nói của mẹ, chỉ vui vì
sắp có thịt, có cốm để ăn và đồ mới dù chỉ là một chiếc áo hay chiếc
quần.
Rồi những cái tết thiếu trước hụt sau cũng qua, chúng
tôi cũng trưởng thành từ mảnh đất cát nghèo kiệt cùng sự tảo tần sớm
hôm của mẹ. Mẹ tôi không còn quang gánh đi chợ tết. Nhà máy công trình
mọc lên tạo thêm nhiều việc làm cho làng cát quê tôi. Mẹ tôi còn lại
một mình với nếp nhà xưa. Nhưng ngày tết đến, mẹ vẫn không quên nải
chuối xanh và hộp cốm để chưng lên bàn thờ tổ tiên. Mắt mẹ lại ngân
ngấn nước khi con cháu lại tụ hội về bên mẹ trong bữa cơm chiều tất
niên.
Với mẹ, hạnh phúc khi được thấy các con trưởng thành
và rời làng cát nghèo một thời khó nhọc. Với tôi, hạnh phúc khi được về
bên mẹ, bên nếp nhà xưa và được cảm nhận hương vị tết của quê nghèo.
(Theo Tuổi trẻ)